Định hướng phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020

Quan điểm phát triển

Tỉnh Bình Dương đang quy hoạch tổng thể phát triển về kinh tế và xã hội đến năm 2020 nhằm mục đích xây dựng Bình Dương thành tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đảm bảo mối liên kết giữa tăng trưởng kinh tế và quản lý các vấn đề xã hội, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.

Tập trung khai thác lợi thế về điều kiện địa lý, hợp tác với các tỉnh trong Khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam và thành phố Hồ Chí Minh – phát triển nòng cốt nhằm phát triển kinh tế – xã hội. Chủ động tích cực hội nhập; nâng cao hiệu quả kinh tế gắn với phát triển xã hội khi đầu tư; xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng toàn diện; phát triển công nghiệp đi đôi phát triển đô thị và dịch vụ; phát triển kinh tế – xã hội gắn liền với bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, tăng cường an ninh địa phương.

Mục tiêu phát triển

Đẩy mạnh cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển hướng phát triển công nghiệp và dịch vụ. Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn so với Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; tập trung vào chỗ ở cho người dân và phát triển nhà ở, đào tạo nhân lực và chăm sóc y tế. Hoàn thành quá trình công nghiệp hóa, tạo sự phát triển cân bằng và bền vững cho giai đoạn sau năm 2015.

Xây dựng Bình Dương trở thành tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, toàn diện, đảm bảo mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với quản lý các vấn đề xã hội, giảm đói nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.

Quá trình đô thị hoá và công nghiệp hóa:

– Tỷ lệ đô thị hoá năm 2010 đạt 40%, năm 2015 là 40% và năm 2020 là 75%. Dân số thành thị dự báo 480 nghìn người năm 2010, 1,5 triệu người vào năm 2020. Bình Dương phấn đấu trở thành đô thị loại I, thành phố trực thuộc trung ương vào năm 2020. Không gian thành phố kết nối với thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Biên Hòa để trở thành đô thị của đất nước.

– Năm 2020, tỉnh dự kiến có 31 khu công nghiệp với tổng diện tích 9360,5 ha và 23 cụm công nghiệp với tổng diện tích 2.704 ha.

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật

– Giao thông: phát triển hệ thống giao thông đường bộ kết nối với các tuyến đường quốc lộ hiện đại theo quy mô, đến các cảng hàng không quốc tế và cảng biển Thị Vải – Vũng Tàu và các cơ sở hạ tầng kỹ thuật khác. Tập trung phát triển trục đường từ cao tốc Bình Dương đến cửa khẩu Hoa Lư, từ cao tốc Bình Dương đến Đồng Xoài, từ cao tốc Bình Dương đến Dầu Tiếng, đường Mỹ Phước – Tân Vân. Hợp tác chặt chẽ với Bộ Giao thông Vận tải để xây dựng trục ngang: Đường Vành đai 3, Đường Vành đai 4, Đường Thường Tân – Tân Hưng – Hưng Hòa … Về đường thủy: tiếp tục nạo vét các nhánh sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và sông Thị Tính; cải tạo và xây dựng hệ thống cảng biển phục vụ giao thông, du lịch và sinh hoạt.

– Điện, nước: đầu tư cải tạo, xây dựng hệ thống điện, cung cấp nước đáp ứng yêu cầu hoạt động sản xuất và sử dụng công cộng, đặc biệt là các khu công nghiệp và đô thị trung tâm. Tăng trưởng năng lượng điện ở mức 24%/năm trong giai đoạn 2006 – 2010, giảm xuống 13%/năm trong giai đoạn 2011-2015. Nhu cầu điện năng 6.700 GWh đến năm 2010 và 12.400 GWh vào năm 2015. Chi phí bổ sung cho phát triển ngành dịch vụ khoảng 36% trong giai đoạn 2006-2010 và ổn định ở mức 30% sau năm 2015. Đến năm 2010, ngành nước xử lý 247.000 m3/ngày và đến năm 2020 462.000 m3/ngày. Đảm bảo 95 -96% hộ nông thôn có điện, nước sạch vào năm 2010 và 100% vào năm 2020.

– Viễn thông: Phát triển viễn thông hiện đại, toàn diện theo tiêu chuẩn kỹ thuật số và tự động, đảm bảo thông tin đầy đủ xuyên suốt trên địa bàn tỉnh, kết nối với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

 

 

Doanh nghiệp đồng nai khát lao động

Trong hai tháng vừa qua, nhiều doanh nghiệp ở phía nam tỉnh Đồng Nai đang cần thêm nhiều lao động, chủ yếu là những lao động thủ công hàng dệt, chế biến gỗ và cơ khí để hoàn thành hợp đồng bổ sung

Các doanh nghiệp đã thử nhiều cách để tuyển dụng đủ công nhân. Một số thậm chí doanh nghiệp đã treo nhièu bảng quảng cáo tuyển dụng ở những khu vực có dân cư đông đúc, tuy nhiên số lượng người đăng ký vẫn không đáp ứng nhu cầu hiện tại.

Tại các khu công nghiệp như Hố Nai, Sông Mây thuộc huyện Trảng Bom và Amata ở thành phố Biên Hòa có thể thấy rất nhiều thông báo tuyển dụng được trưng bày trên bảng thông tin. Mỗi doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng từ 10 đến 200 công nhân.

Công ty TNHH Bắc Hoàng trong KCN Hố Nai là một ví dụ điển hình. Một hội thảo mới đã được mở ra và công ty đang tuyển dụng 300 lao động. Trong giai đoạn thử việc, công ty cung cấp mức lương hàng tháng lên tới hơn 3.7 triệu bảng (166 đô la Mỹ) và tiền thưởng thêm cho các nhân viên chăm chỉ làm việc 300-350.000 (13-23,9 đô la Mỹ).

Kể từ cuối tháng 6, công ty đã quảng cáo ở nhiều nơi, nhưng mỗi ngày chỉ có một số người đến xin việc làm. Đến giữa tháng 7, công ty quyết định thành lập một phòng tuyển dụng tại cổng công nghiệp, với hai người có nhiệm vụ tư vấn, trả lời các câu hỏi và nhận CV từ những ứng viên tiềm năng.

Một đại diện của công ty cho biết số lượng người nộp đơn đã tăng nhưng vẫn không thể đáp ứng nhu cầu tuyển dụng.

Ông cũng cho biết, phương pháp tuyển dụng này rất tốn kém và công ty không thể duy trì nó lâu hơn.

Công ty Cờ Vàng Việt Nam cũng đang trong tình trạng tương tự. Công ty nãy cũng đã đưa ra mức lương hàng tháng là 3.700.000 VND (166 USD) cho các vị trí của thợ máy và thợ hàn, và chấp nhận những người chưa được đào tạo trong những lĩnh vực này, nhưng kết quả vẫn không tích cực như mong đợi.

Công ty sau đó đã đặt một tấm bảng tuyển dụng trên đường quốc lộ để tuyển dụng lao động, và bắt buộc bộ phận nhân sự phải nghiêm túc làm việc cho đến khi tuyển dụng đủ nhân viên.

Lâm Thanh Thu, Phó Trung tâm Giới thiệu việc làm Đông Nam Bộ tỉnh Đồng Nai cho biết nhu cầu của người lao động đang vượt quá cung. Tại ba cuộc giao dịch việc làm gần đây của trung tâm, số nhân viên cần có là từ 1.000 đến 2.000, nhưng số lượng người xin việc làm vẫn còn thấp.

Ông Thu đã trích dẫn một giao dịch vào ngày 10 tháng 7 làm ví dụ. Đã có gần 1.000 vị trí trống, nhưng chỉ có 100 vị trí đã được lấp đầy.

Theo ông Thu, sở dĩ có nhu cầu cao trong việc tuyển dụng nhân viên là do các hợp đồng bổ sung mà các doanh nghiệp đã thu được trong vài tháng qua.

Ông cũng cho biết thêm, hơn nữa, số người di cư tìm kiếm việc làm từ miền Bắc và miền Trung đến Đồng Nai đã giảm xuống khi nhiều khu công nghiệp đã được xây dựng ở quê nhà. Hầu hết người lao động thích làm việc gần nhà hơn.

Ông Thu cho biết, các doanh nghiệp trong tỉnh cần xây dựng chiến lược quản lý nguồn nhân lực bao gồm các lợi ích và điều kiện làm việc thuận lợi cho người lao động thu hút họ trở lại làm việc sau ngày nghỉ và thu hút thêm người lao động khi cần thiết.

Ngành công nghiệp của Long An phát triển

LONG AN – Tỉnh phía Nam Long An đã dành quyền ưu tiên cho các công nghệ thân thiện với môi trường và tăng cường sự quản lý môi trường để đảm bảo hoạt động bền vững của các khu công nghiệp, ông Phan Nhân Duy, Cục trưởng Cục Tài nguyên và Môi trường cho biết.

Hiện tại tỉnh Long An đã có 28 khu công nghiệp và 16 khu công nghiệp đang hoạt động, với hơn 1.000 nhà máy có tổng vốn đầu tư hơn 5 tỷ đô la Mỹ.

Tất cả đều phải nộp các bài báo cáo về những tác động môi trường và cam kết bảo vệ tài nguyên môi trường để được tỉnh cấp phép. Tỉnh có các hệ thống xử lý chất thải và nước thải riêng.

Rất nhiều trong số các nhà phát triển của các khu công nghiệp đó đã đầu tư vào các hệ thống xử lý môi trường hiện đại và có mong muốn nhiều hơn nữa dự án thân thiện với môi trường được thực hiện trong các khu công nghiệp của họ, ông Duy cho biết.

Việc xuất khẩu từ các Khu công nghiệp và khu công nghiệp phức hợp chiếm hơn 50% các mặt hàng hàng xuất khẩu hàng năm của tỉnh với trên 4 tỷ đô la Mỹ.

Các biện pháp của tỉnh đã giúp họ tái cơ cấu nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, ông Duy cho hay.

Ông Lê Anh Hiếu, quản lý tiếp thị của Công ty Cổ Phần Long Hậu, nhà phát triển Khu công nghiệp Long Hậu ở huyện Cần Đước, cho biết công ty của ông tập trung vào vấn đề bảo vệ môi trường.

Khu công nghiệp quy định bảo vệ môi trường cho chủ sở hữu của nó, ông nói.

Hệ thống xử lý nước thải của khu công nghiệp là minh chứng cho những nỗ lực bảo vệ môi trường, ông nói.

Ông còn cho biết thêm các hệ thống xử lý nước thải và hệ thống cấp nước mất trị giá hơn 10 tỷ đồng để xây dựng.

Gần đây, nó đã nâng công suất xử lý nước thải từ 2,000 m3/ngày lên 6.500 m3 và nước đã qua xử lý được sử dụng để trồng cây xanh trong Khu công nghiệp.

Long An thường xuyên giám sát chất lượng nước mặt và không khí và thực hiện các nghiên cứu về môi trường ở những nơi có nguy cơ ô nhiễm.

Tỉnh đã thực hiện những biện pháp nhằm ngăn ngừa ô nhiễm và có những khích lệ cho việc sử dụng các công nghệ mới để sản xuất sạch, tiêu chuẩn ISO 14000 và tiêu thụ xanh, góp phần giúp các doanh nghiệp di dời từ các khu dân cư.

Ông Hiếu cho biết tỉnh cũng đã tiến hành một nghiên cứu về chất thải thải ra sông nhằm bảo vệ chúng.