Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp trong tỉnh Bình Dương

Nhằm tập trung triển khai có hiệu quả các cam kết đã ký với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) theo Nghị quyết 19-2016 / NQ-CP ngày 28- 4- 2016 của Chính phủ; vào ngày 21- 3 -2017, Uỷ ban Nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành kế hoạch thực hiện cam kết tạo môi trường kinh doanh thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài khi đến tỉnh đầu tư.

Theo đó, tỉnh sẽ tăng cường các cuộc đối thoại giữa chính phủ và các doanh nghiệp địa phương để kịp thời nắm bắt và loại bỏ những khó khăn, vướng mắc và trở ngại cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp tại địa phương; nâng cao chất lượng quản lý nhà nước, tạo bước đột phá trong cải cách hành chính, thực hiện cơ chế một cửa, nâng cấp các dịch vụ công trực tuyến nhằm tạo môi trường đầu tư cởi mở, minh bạch, tiện lợi cho doanh nghiệp; nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên địa bàn, thúc đẩy hoạt động khởi sự và đổi mới. Bên cạnh đó, thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm ngăn chặn, phát hiện và xử lý các vi phạm, đồng thời hỗ trợ, hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Kế hoạch này cũng phân công nhiệm vụ cụ thể cho các phòng ban. Đặc biệt, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Dương chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành thực hiện đầy đủ các quy định của Luật Doanh nghiệp và các Nghị định hướng dẫn về Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và Đăng ký kinh doanh.

Kế hoạch cũng yêu cầu phải thực hiện các thủ tục thành lập doanh nghiệp tối đa là 02 ngày làm việc (Luật Doanh nghiệp quy định 03 ngày làm việc).

Giảm một nửa thời gian cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, cụ thể hơn, thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định chính sách đầu tư hoặc phê duyệt địa điểm thực hiện dự án (Luật Đầu tư quy định 05 ngày làm việc).

Giảm 50% thời gian đóng góp ý kiến, thẩm định quyết định chính sách, cụ thể là thời gian Sở Kế hoạch và Đầu tư thu thập ý kiến của cơ quan nhà nước có liên quan tối đa 02 ngày làm việc (Luật Đầu tư quy định 03 ngày làm việc); Thời điểm nộp báo cáo thẩm định lên Uỷ ban nhân dân tỉnh tối đa là 18 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ (Luật Đầu tư quy định 25 ngày làm việc). Đồng thời, Sở sẽ thành lập tổ công tác theo dõi tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, theo đó, hàng quý sẽ báo tình hình và đưa ra giải pháp cho lãnh đạo nhằm giải quyết những khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Long An phấn đấu vì sự tăng trưởng xanh

Là cửa ngõ vào Đồng Bằng Sông Cửu Long và là nơi sản xuất lúa gạo lớn trong khu vực, tỉnh Long An phấn đấu đạt mục tiêu để trở thành một tỉnh công nghiệp thân thiện với môi trường.

Mục tiêu đã được Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh tiết lộ ngày hôm qua tại một hội nghị tổ chức nhằm công bố quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh đến năm 2020.

Ông kêu gọi các lãnh đạo tỉnh triển khai “các giải pháp cụ thể” để huy động các nguồn lực trong nước và quốc tế nhằm thực hiện các mục tiêu theo kế hoạch.

Phó Thủ tướng cho biết tỉnh Long An nên ưu tiên cho các dự án tăng cường vai trò chiến lược như là một cửa ngõ vào Đồng Bằng Sông Cửu Long, kết nối khu vực với Khu kinh tế trọng điểm phía Nam.

Theo ông, nhận thức tỉnh có nhiều tiềm năng chưa được khai thác, chính quyền địa phương nên tạo môi trường đầu tư tốt nhất có thể và tạo điều kiện thuận lợi để thu hút nhiều nhà đầu tư đến với tỉnh.

Ông Ninh cho biết “Tỉnh cần có kế hoạch 5 năm cũng như các kế hoạch hàng năm để thực hiện tốt hơn kế hoạch phân vùng chính cho địa phương được Chính phủ phê duyệt. Các đầu tư tập trung vào lĩnh vực công nghệ cao phải được ưu tiên.

Theo kế hoạch tổng thể, Long An sẽ phát triển diện tích 4.500 km2 thành ba phần chính, nhằm hướng đến sự phát triển thân thiện với môi trường.

Tỉnh có dân số 1,4 triệu người, nhằm vào phát triển ngành công nghiệp bền vững và hỗ trợ các ngành khác trong đó có nông nghiệp và dịch vụ.

Khu vực đầu tiên sẽ tập trung vào du lịch, nông nghiệp và phát triển nền kinh tế biên giới. Khu vực thứ hai sẽ là một khu vực sinh thái, bảo vệ khu vực đầu tiên từ các tác động phát triển trong khi khu vực thứ ba sẽ được sử dụng cho phát triển công nghiệp và đô thị.

Kế hoạch có nhiều tham vọng

Tỉnh đã đặt ra mục tiêu cứng rắn là đạt được tăng trưởng GDP bình quân trong nước ít nhất là 13% trong giai đoạn 2012-2020. Năm ngoái, tăng trưởng GDP của tỉnh được báo cáo là 10,5%.

Theo kế hoạch tổng thể, GDP bình quân đầu người hàng năm của tỉnh dự kiến đạt đến 2.400 đô vào năm 2015 và 3.800 đô vào năm 2020. GDP bình quân đầu người sẽ là 8.000 đô vào năm 2030, tăng so với mức hiện tại là 1.800 USD.

Theo kế hoạch tổng thể, ngành công nghiệp của tỉnh dự kiến sẽ đạt tốc độ tăng trưởng trên 14% vào năm 2015 và sẽ tiếp tục duy trì trong 5 năm tiếp theo. Ngành dịch vụ dự kiến đạt được tốc độ tăng trưởng 17% vào năm 2020.

Ông Đỗ Hữu Lâm, Chủ tịch UBND tỉnh nhắc lại rằng tỉnh có rất nhiều tiềm năng chưa được khai thác và có vị trí chiến lược kết nối trung tâm kinh tế lớn nhất với vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Ông cho biết bên cạnh các hệ thống sông ngòi có thể tạo ra mối liên kết tốt hơn giữa Đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh có hơn 30 khu công nghiệp và 5.000 ha đất trống sẵn sàng tiếp nhận đầu tư.

Tuy nhiên, để đạt được các mục tiêu tăng trưởng, Long An đã ước tính nhu cầu đầu tư khoảng 400 nghìn tỷ Việt Nam đồng (19 tỷ đô) trong giai đoạn 2011-2020.

Trong khi phấn đấu đáp ứng mục tiêu phát triển công nghiệp đầy tham vọng, tỉnh cũng có kế hoạch tiếp tục phát triển trồng lúa, góp phần vào mục tiêu an ninh lương thực quốc gia, ông Lâm cho biết.

Lãnh đạo Đồng bằng sông Cửu Long

Các quan chức cho hay với vị trí chiến lược và tiềm năng chưa khai thác, Long An có cơ hội lớn để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và biến mình trở thành một tỉnh công nghiệp “điển hình” vào năm 2020.

Long An dẫn đầu khu vực đồng bằng sông Cửu Long trong việc thu hút FDI, đứng thứ 11 cả nước vào năm ngoái. Vào cuối năm 2012, đã có 461 dự án đầu tư nước ngoài trị giá 3 tỷ đô. Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất trong tỉnh.

Hội nghị thông tin rằng từ đầu năm đến nay đã có 12 dự án được đăng ký trên địa bàn tỉnh, chủ yếu là các trung tâm kinh tế lớn như các huyện Đức Hòa, Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc và thành phố Tân An.

Ông Lâm cho biết, tỉnh đã đạt được thành công trong việc thu hút vốn đầu tư và phát triển ngành công nghiệp để tạo động lực phát triển góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Việc xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh chóng từ đầu năm đến nay và chiếm tỷ lệ cao trong tổng xuất khẩu của tỉnh. Xuất khẩu của khu vực FDI tăng từ 150 triệu đô la năm 2000 lên đến 1,97 tỷ đô la trong năm 2011.

Để trở thành một tỉnh công nghiệp hoá vào năm 2020, Long An sẽ cố gắng cải thiện môi trường đầu tư để thu hút nhiều hơn nữa các dự án FDI tập trung vào công nghệ mới, các ngành công nghiệp và các ngành không gây ô nhiễm môi trường.

Tỉnh sẽ cải cách các thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư, đất đai, xây dựng, thuế và hải quan và tăng cường năng lực quản lý của chính quyền địa phương, giải quyết những vấn đề mà các cá nhân và doanh nghiệp gặp phải và tăng chỉ số năng lực cạnh tranh, ông nói thêm. – theo báo Vietnamnews

 (http://vietnamnews.vn/economy/238321/long-an-strives-for-green-growth.html)

Định hướng phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020

Quan điểm phát triển

Tỉnh Bình Dương đang quy hoạch tổng thể phát triển về kinh tế và xã hội đến năm 2020 nhằm mục đích xây dựng Bình Dương thành tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đảm bảo mối liên kết giữa tăng trưởng kinh tế và quản lý các vấn đề xã hội, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.

Tập trung khai thác lợi thế về điều kiện địa lý, hợp tác với các tỉnh trong Khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam và thành phố Hồ Chí Minh – phát triển nòng cốt nhằm phát triển kinh tế – xã hội. Chủ động tích cực hội nhập; nâng cao hiệu quả kinh tế gắn với phát triển xã hội khi đầu tư; xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng toàn diện; phát triển công nghiệp đi đôi phát triển đô thị và dịch vụ; phát triển kinh tế – xã hội gắn liền với bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, tăng cường an ninh địa phương.

Mục tiêu phát triển

Đẩy mạnh cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển hướng phát triển công nghiệp và dịch vụ. Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn so với Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; tập trung vào chỗ ở cho người dân và phát triển nhà ở, đào tạo nhân lực và chăm sóc y tế. Hoàn thành quá trình công nghiệp hóa, tạo sự phát triển cân bằng và bền vững cho giai đoạn sau năm 2015.

Xây dựng Bình Dương trở thành tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, toàn diện, đảm bảo mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với quản lý các vấn đề xã hội, giảm đói nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.

Quá trình đô thị hoá và công nghiệp hóa:

– Tỷ lệ đô thị hoá năm 2010 đạt 40%, năm 2015 là 40% và năm 2020 là 75%. Dân số thành thị dự báo 480 nghìn người năm 2010, 1,5 triệu người vào năm 2020. Bình Dương phấn đấu trở thành đô thị loại I, thành phố trực thuộc trung ương vào năm 2020. Không gian thành phố kết nối với thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Biên Hòa để trở thành đô thị của đất nước.

– Năm 2020, tỉnh dự kiến có 31 khu công nghiệp với tổng diện tích 9360,5 ha và 23 cụm công nghiệp với tổng diện tích 2.704 ha.

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật

– Giao thông: phát triển hệ thống giao thông đường bộ kết nối với các tuyến đường quốc lộ hiện đại theo quy mô, đến các cảng hàng không quốc tế và cảng biển Thị Vải – Vũng Tàu và các cơ sở hạ tầng kỹ thuật khác. Tập trung phát triển trục đường từ cao tốc Bình Dương đến cửa khẩu Hoa Lư, từ cao tốc Bình Dương đến Đồng Xoài, từ cao tốc Bình Dương đến Dầu Tiếng, đường Mỹ Phước – Tân Vân. Hợp tác chặt chẽ với Bộ Giao thông Vận tải để xây dựng trục ngang: Đường Vành đai 3, Đường Vành đai 4, Đường Thường Tân – Tân Hưng – Hưng Hòa … Về đường thủy: tiếp tục nạo vét các nhánh sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và sông Thị Tính; cải tạo và xây dựng hệ thống cảng biển phục vụ giao thông, du lịch và sinh hoạt.

– Điện, nước: đầu tư cải tạo, xây dựng hệ thống điện, cung cấp nước đáp ứng yêu cầu hoạt động sản xuất và sử dụng công cộng, đặc biệt là các khu công nghiệp và đô thị trung tâm. Tăng trưởng năng lượng điện ở mức 24%/năm trong giai đoạn 2006 – 2010, giảm xuống 13%/năm trong giai đoạn 2011-2015. Nhu cầu điện năng 6.700 GWh đến năm 2010 và 12.400 GWh vào năm 2015. Chi phí bổ sung cho phát triển ngành dịch vụ khoảng 36% trong giai đoạn 2006-2010 và ổn định ở mức 30% sau năm 2015. Đến năm 2010, ngành nước xử lý 247.000 m3/ngày và đến năm 2020 462.000 m3/ngày. Đảm bảo 95 -96% hộ nông thôn có điện, nước sạch vào năm 2010 và 100% vào năm 2020.

– Viễn thông: Phát triển viễn thông hiện đại, toàn diện theo tiêu chuẩn kỹ thuật số và tự động, đảm bảo thông tin đầy đủ xuyên suốt trên địa bàn tỉnh, kết nối với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

 

 

Bình Dương nỗ lực phát triển nhà ở xã hội cho công nhân

 

Là một tỉnh có nhiều lao động di cư (trên 900.000 lao động), trong những năm gần đây, Bình Dương đã đưa ra chương trình phát triển nhà ở xã hội với xu hướng phát triển nhà ở xã hội theo hướng đô thị hóa nhằm đáp ứng nhu cầu nhà ở trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá . Ngoài ra, Tỉnh cũng chú trọng nhiều đến phát triển nhà ở xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, bao gồm cả công nhân và người có thu nhập thấp.

Tập trung xây dựng nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp

Theo Sở Xây dựng, tỉnh Bình Dương đã thu hút được 85 dự án phát triển nhà ở xã hội với tổng diện tích sàn là 3,9 triệu m2, sức chứa 240.000 người, với tổng vốn đầu tư 19.000 tỷ đồng. Trong đó, 43 dự án thuộc dự án nhà ở xã hội của Becamex do Công ty Becamex IDC làm nhà đầu tư với tổng diện tích sàn 3,1 triệu m2, tổng số căn hộ là 70.000 căn, tổng mức đầu tư 12.100 tỷ đồng. Hiện có 25 dự án hoàn thành và đưa vào sử dụng với tổng diện tích sàn 491.262m2, với sức chứa khoảng 40.000 người. Ngoài ra, tỉnh có khoảng 200 doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp với chỗ ở cho công nhân với tổng diện tích sàn 270.000m2, với sức chứa 47.000 người. Như vậy, từ năm 2011 đến nay, tổng diện tích nhà ở xã hội ở Bình Dương đã đạt trên 761.000 m2, với sức chứa khoảng 87.000 người.

Những nỗ lực xây dựng nhà ở xã hội của Tỉnh không đáp ứng được nhu cầu khổng lồ của người có thu nhập thấp. Để giải quyết nhu cầu chỗ ở của công nhân nhập cư và sinh viên, hộ gia đình và cá nhân thì Tỉnh cũng đã xây dựng hơn 3 triệu m2 nhà ở, tương đương với khoảng 180.000 căn hộ, đáp ứng nhu cầu nhà ở của 450.000 người.

Để đạt được kết quả này, ông Nguyễn Thanh Tài – Giám đốc Sở Xây dựng cho biết, Chính phủ đã ban hành kịp thời các cơ chế liên quan đến nhà ở và thị trường bất động sản, chính sách ưu đãi về nhà ở xã hội. Bên cạnh đó, Bình Dương quan tâm đến phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp. Mô hình phát triển nhà ở xã hội của Becamex dựa trên quỹ đất sạch đã được đầu tư và đưa vào sử dụng với mức giá ưu đãi kết hợp với nhiều hình thức cho vay mua nhà từ 100 triệu đồng đến 200 triệu đồng mỗi căn hộ 30m2.

Ông Nguyễn Văn Hùng – Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc của Becamex IDC cho biết, lãnh đạo tỉnh đặc biệt quan tâm đến chính sách an sinh xã hội. Các doanh nghiệp và công dân đều nhất quán trong việc xây dựng nhà ở xã hội cho công nhân. Trong giai đoạn 1, Becamex đã xây dựng và 5.000 căn đã đc đưa ra sử dụng. 10.000 căn hộ của giai đoạn 2 cũng đang được xây dựng.. Các giai đoạn tiếp theo sẽ được thực hiện theo nhu cầu thực tế của người dân. Ông Hùng cho biết: “Để đạt được những kết quả này, chúng tôi đã chuẩn bị trước cho kế hoạch tổng thể, quỹ đất dành cho phát triển. Ngoài ra còn có đầu tư về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội, các tiện ích thiết yếu và dịch vụ cho cuộc sống hàng ngày, Linh hoạt áp dụng các gói hỗ trợ tài chính và các chính sách liên quan đến các nguồn lực xã hội để phát triển nhà ở xã hội.

 Cần cấp thiết có các biện pháp hiệu quả để phát triển nhà ở xã hội.

Theo dự báo, đến năm 2020, số lao động trong các cụm công nghiệp tỉnh có nhu cầu về nhà ở sẽ khoảng 1,2 triệu người. Ngoài ra, sẽ có khoảng 1,6 triệu m2 nhà ở cho người lao động, bao gồm nhà ở cho người lao động đầu tư của cư dân địa phương. Để đạt được những mục tiêu này, cần có nhiều giải pháp hiệu quả và đồng bộ hơn

Ông Nguyễn Thanh Tài cho biết, những khó khăn hiện nay trong việc phát triển nhà ở xã hội là một số nhà đầu tư dự án nhà ở thương mại và các khu đô thị mới đã dành quỹ đất với cơ sở hạ tầng sẵn có để xây dựng nhà ở xã hội nhưng thiếu vốn để triển khai. Một số địa điểm xa với điều kiện sống của người lao động, thiếu cơ sở hạ tầng bên ngoài dự án. Bên cạnh đó, người lao động, người có thu nhập thấp, không có đủ tiền mua căn hộ, vẫn có nhu cầu thuê nhà ở gần công ty của họ để tạo điều kiện đi lại và giảm chi phí sinh hoạt. Hơn nữa, các doanh nghiệp không thực sự tham gia xây dựng nhà ở xã hội, do khó tiếp cận các khoản vay ưu đãi từ Ngân hàng Nhà nước

Với tình hình đó, tại hội nghị trực tuyến của Chính phủ về nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân, ông Trần Thanh Liêm – Phó Chủ tịch UBND tỉnh, kiến nghị Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương bổ sung nguồn quỹ nhà ở xã hội để cho vay ưu đãi đối tượng. Ông cũng đề xuất Chính phủ tiếp tục duy trì mức lãi suất cho vay 4,8% / năm trong thời gian tới, kéo dài thời hạn vay lên 20 năm hoặc hơn. Triển khai sớm cho các hộ gia đình vay để mua hoặc thuê nhà của Ngân hàng Chính sách Xã hội. Các chính sách nghiên cứu để giúp đỡ ngay các đối tượng như người có thu nhập thấp, người lao động làm việc trong tỉnhÔng Liêm cho biết, hiện nay, nhu cầu ăn ở của công nhân trong các khu công nghiệp rất lớn. Trong khi đó, các nhà đầu tư của các cụm công nghiệp, Nhà nước đã không bố trí đủ tiền để xây dựng nhà ở kịp thời cho người lao động, “nhà ở” là điều cần thiết để giải quyết nhu cầu nhà ở nhanh chóng của lực lượng lao động. Ông đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét một quỹ đất “nhà ở” do các hộ gia đình, cá nhân đầu tư làm đất thương mại.

Có thể nói, sự phát triển nhà ở xã hội sẽ giải quyết được nhiều vấn đề của Bình Dương. Đây là nền tảng cho sự phát triển của đô thị, dịch vụ, cơ sở hạ tầng và cơ sở hạ tầng xã hội. Tạo môi trường kinh doanh hấp dẫn cho các nhà đầu tư. Cần bắt đầu từ nguồn nhân lực ổn định để từng bước hoàn thành mọi điều kiện để thu hút vốn đầu tư và các nguồn lực khác với nội dung “chất xám” cao.

Ngành công nghiệp của Long An phát triển

LONG AN – Tỉnh phía Nam Long An đã dành quyền ưu tiên cho các công nghệ thân thiện với môi trường và tăng cường sự quản lý môi trường để đảm bảo hoạt động bền vững của các khu công nghiệp, ông Phan Nhân Duy, Cục trưởng Cục Tài nguyên và Môi trường cho biết.

Hiện tại tỉnh Long An đã có 28 khu công nghiệp và 16 khu công nghiệp đang hoạt động, với hơn 1.000 nhà máy có tổng vốn đầu tư hơn 5 tỷ đô la Mỹ.

Tất cả đều phải nộp các bài báo cáo về những tác động môi trường và cam kết bảo vệ tài nguyên môi trường để được tỉnh cấp phép. Tỉnh có các hệ thống xử lý chất thải và nước thải riêng.

Rất nhiều trong số các nhà phát triển của các khu công nghiệp đó đã đầu tư vào các hệ thống xử lý môi trường hiện đại và có mong muốn nhiều hơn nữa dự án thân thiện với môi trường được thực hiện trong các khu công nghiệp của họ, ông Duy cho biết.

Việc xuất khẩu từ các Khu công nghiệp và khu công nghiệp phức hợp chiếm hơn 50% các mặt hàng hàng xuất khẩu hàng năm của tỉnh với trên 4 tỷ đô la Mỹ.

Các biện pháp của tỉnh đã giúp họ tái cơ cấu nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, ông Duy cho hay.

Ông Lê Anh Hiếu, quản lý tiếp thị của Công ty Cổ Phần Long Hậu, nhà phát triển Khu công nghiệp Long Hậu ở huyện Cần Đước, cho biết công ty của ông tập trung vào vấn đề bảo vệ môi trường.

Khu công nghiệp quy định bảo vệ môi trường cho chủ sở hữu của nó, ông nói.

Hệ thống xử lý nước thải của khu công nghiệp là minh chứng cho những nỗ lực bảo vệ môi trường, ông nói.

Ông còn cho biết thêm các hệ thống xử lý nước thải và hệ thống cấp nước mất trị giá hơn 10 tỷ đồng để xây dựng.

Gần đây, nó đã nâng công suất xử lý nước thải từ 2,000 m3/ngày lên 6.500 m3 và nước đã qua xử lý được sử dụng để trồng cây xanh trong Khu công nghiệp.

Long An thường xuyên giám sát chất lượng nước mặt và không khí và thực hiện các nghiên cứu về môi trường ở những nơi có nguy cơ ô nhiễm.

Tỉnh đã thực hiện những biện pháp nhằm ngăn ngừa ô nhiễm và có những khích lệ cho việc sử dụng các công nghệ mới để sản xuất sạch, tiêu chuẩn ISO 14000 và tiêu thụ xanh, góp phần giúp các doanh nghiệp di dời từ các khu dân cư.

Ông Hiếu cho biết tỉnh cũng đã tiến hành một nghiên cứu về chất thải thải ra sông nhằm bảo vệ chúng.

 

Cơ hội mở rộng đầu tư ở Bà Rịa – Vũng Tàu

Bà Rịa – Vũng Tàu là khu kinh tế trọng điểm nằm ở miền Nam. Năm 2015, tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh đạt xấp xỉ 6,55% với cư dân là 1 triệu người trên tổng thu nhập bình quân là 5233 USD. Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có những lợi thế để phát triển du lịch, công nghiệp như cảng biển, hạ tầng giao thông thuận lợi. Đó là những yếu tố quan trọng thu hút các nhà đầu tư.

Những tiềm năng và lợi thế của tỉnh được nổi bật dưới đây:

– Hệ thống cảng biển nước sâu:  Hệ thống cảng Vũng Tàu được xây dựng như một hệ thống cảng biển quốc gia, là cửa ngõ cho các giao dịch trung chuyển container thương mại quốc tế và có khả năng tiếp nhận hơn tàu với trọng tải hơn 10000 tấn. Cảng biển nước sâu ở Cái Mép – Thị Vair đảm nhận vai trò trung chuyển hàng hóa quốc tế, có khả năng cạnh tranh với các cảng khác trong khu vực với khả năng tiếp nhận tàu lên tới 160000 tấn. Hàng hóa xuất khẩu từ Cái Mép – Thị Vải được vận chuyển trực tiếp từ Việt Nam sang các chợ ở Bắc Mỹ, Châu Âu và ngược lại. Hiện nay trong hệ thống có 28 cổng đang hoạt động với công suất đạt 98 triệu tấn mỗi năm. Tổng khối lượng hàng hóa xử lý tại các cảng năm 2015 đạt hơn 46 triệu tấn mỗi năm.

– Cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở các khu công nghiệp đang dần hoàn thiện và sẵn sàng để  chào đón các nhà đầu tư tiềm năng. Hiện nay toàn tỉnh có 15 khu công nghiệp với tổng diện tích đất là 8.510 ha và hầu hết các khu công nghiệp đều nằm gần hệ thống cảng Cái Mép- Thị Vải, tạo điều kiện cho các hoạt động thương mại quốc tế diễn ra thuận lợi.

Đến nay có khoảng 270 dự án đầu tư đang hoạt động tại các khu công nghiệp với tổng vốn đăng ký đầu tư hơn 13 tỷ USD, trong đó có 136 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đầu tư là 8,5 tỷ USD. Tổng diện tích cho thuê là 1.960 ha, tương đương với 35% tỷ lệ sở hữu.

– Tài nguyên thiên nhiên dồi dào đặc biệt là dầu khí chính là lợi thế trong ngành công nghiệp dầu khí, cơ hội phát triển các ngành công nghiệp như sản xuất điện, phân bón, vật liệu xây dựng.

– Cơ sở hạ tầng giao thông kết nối chặt chẽ với hệ thống đường bộ quốc gia, giúp dễ dàng kết nối với các thành phố trong tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu và các tỉnh lân cận bằng đường bộ, đường thủy và hàng không.

– Giàu tiềm năng về du lịch với nhiều danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử và địa điểm du lịch nổi. Hơn nữa vị trí thuận lợi có đường bờ biển dài 72km và thời tiết dễ chịu, thành phố luôn nhộn nhịp khách du lịch ghé thăm hàng năm. Các khu du lịch nổi tiếng như Vũng Tàu, Long Hải- Phước Hải, Hồ Tràm và Côn Đảo thu hút nhiều dự án đầu tư với những công trình hiện đại và sản phẩm du lịch hấp dẫn.

Đến nay, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu có hơn 200 khách sạn và khu nghỉ dưỡng với khoảng 10.000 phòng trong đó 160 khách sạn được đánh giá chất lượng từ 1-5 sao. Trong năm 2015, toàn tỉnh đón và phục vụ khoảng 15 triệu khách du lịch, trong đó khách quốc tế chiếm đã có 560.000 lượt khách.

Tình hình sức hút FDI

Đến nay, toàn tỉnh có 297 dự án FDI với tổng vốn đã đăng ký là 27 tỷ USD. Các dự án đến từ 20 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Mỹ là nhà đầu tư lớn nhất của tỉnh với tổng vốn đầu tư lên đến 5,4 tỷ USD, chiếm 20% tổng số vốn FDI; Canada được xếp hạng là nhà đầu tư lớn thứ 2  với tổng vốn là 4,2 tỷ USD chiếm 15,5 % tổng số FDI. Tiếp theo là các nhà đầu tư lớn nhất là Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Singapore, Đài Loan, Anh và Pháp. Riêng Ý có một dự án đầu tư với tổng vốn là  900.000 USD.

Định hướng nhằm thu hút đầu tư

Với mục tiêu phát triển các ngành công nghiệp, cảng biển, dịch vụ logistic và du lịch, tỉnh kêu gọi các nhà đầu tư tiềm năng có khả năng đầu tư vào lĩnh vực lợi thế và tiềm năng của tỉnh, đồng thời cũng cải thiện đầu tư theo hướng phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường.

Những ưu tiên phải làm để thu hút đầu tư trong thời gian tới:

Thứ nhất, tiếp tục thu hút đầu tư cho các ngành công nghiệp đặc biệt là ngành công nghiệp vật liệu cơ bản, ngành cơ khí, nhựa và hóa chất hoặc các sản phẩm hỗ trợ sau khi xử lý hóa dầu, thiết bị cho ngành công nghiệp hàng hải, máy móc phục vụ nông nghiệp… bằng việc sử dụng công nghệ hiện đại để tạo ra những sản phẩm có giá trị cao, thân thiện với môi trường và tiết kiệm năng lượng.

Các khu công nghiệp thu hút các dự án sản xuất sản phẩm xuất khẩu để tạo nguồn sản phẩm đến dịch vụ xuất khẩu tại cảng Cái Mép – Thị Vải.

Thứ hai, đặc biệt chú trọng đến phát triển hệ thống cảng biển và dịch vụ logistic bao gồm: kho, vận chuyển, đóng gói, phân phối, đào tạo nguồn nhân lực và các dịch vụ liên quan khác.

Thứ ba, thúc đẩy và kêu gọi các nhà đầu tư nổi tiếng các dự án du lịch, đặc biệt là du lịch quy mô lớn với chất lượng cao nhằm thúc đẩy sự phát triển của du lịch.

Phát triển huyện Côn Đảo để trở thành một khu kinh tế với các dịch vụ du lịch chất lượng cao và ưu tiên phát triển loại hình du lịch sinh thái biển, nghỉ dưỡng đạt tiêu chuẩn cao và du lịch văn hóa, lịch sử tâm linh.

Cuối cùng, thu hút các dự án nông nghiệp sản xuất theo công nghệ cao và chế biến nông sản.